Ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc áp đảo, Indonesia và Thái Lan giảm, Nga gây bất ngờ
Các loại xe từ Trung Quốc chiếm gần nửa tổng lượng ô tô nhập khẩu tháng đầu năm 2026, Indonesia và Thái Lan giảm, xe từ Nga gây bất ngờ.
Số liệu thống kê của Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho biết, đã có 14.696 ô tô nguyên chiếc (CBU) được hoàn tất thủ tục thông quan trong tháng 1/2026, đạt tỷ lệ tăng trưởng đến 107,7% so với cùng kỳ 2025.
Trong đó, các loại xe đến từ Trung Quốc áp đảo hoàn toàn 10 xuất xứ còn lại, tiếp đến là Indonesia và Thái Lan. Hiện tại, Việt Nam đang nhập khẩu mặt hàng ô tô nguyên chiếc từ 11 nước và vùng lãnh thổ khác nhau, bao gồm: Ấn Độ, Vương quốc Anh, Đức, Hàn Quốc, Mỹ, Indonesia, Nga, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan và Trung Quốc.
Cụ thể, riêng lượng ô tô CBU nhập khẩu từ Trung Quốc đã chiếm đến 45,3% tổng lượng xe nhập khẩu tháng đầu năm, đạt 6.661 chiếc, tăng 163,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Con số này giúp các loại xe đến từ Trung Quốc lần đầu vượt qua tất cả xuất xứ khác, thậm chí tạo khoảng cách rất xa.

Lô xe Omoda C5 nhập khẩu từ Trung Quốc. Ảnh: OJV
Xét riêng về số lượng, ô tô nhập khẩu từ Indonesia nhiều thứ 2, đạt tổng cộng 4.141 chiếc, tăng 58% so với cùng kỳ 2025. Kế đến là các loại xe đến từ Thái Lan đạt 3.015 chiếc, tăng 84,9%.
Nếu như ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc có lần đầu vượt mặt cả 2 xuất xứ lớn trong khu vực Đông Nam Á về số lượng thì xét về giá trị, khoảng cách ngày càng được mở rộng.
Cũng theo số liệu của Cục Hải quan, giá trị kim ngạch nhập khẩu ô tô CBU từ Trung Quốc tháng đầu tiên của năm 2026 đạt xấp xỉ 222 tỷ USD, tăng hơn 218% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong khi đó, mặt hàng ô tô CBU nhập khẩu từ Indonesia chỉ tăng 50,8%, đạt giá trị kim ngạch 57,3 triệu USD. Ô tô nhập khẩu từ Thái Lan tăng 91,1%, đạt tổng cộng 62,2 triệu USD.
Với tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu ô tô CBU tháng 1/2026 đạt 369,3 triệu USD, riêng kim ngạch của ô tô từ Trung Quốc đã chiếm tỷ trọng đến 60,1%. Thái Lan đứng ở vị trí thứ 2 với thị phần 16,8%, tiếp theo là Indonesia chiếm 15,5%. Kim ngạch nhập khẩu ô tô CBU từ Nhật Bản giữ vị trí thứ 4 cũng chỉ nắm giữ được 3,7% thị phần, tiếp theo là Đức và Nga lần lượt giữ 1,9% và 1,3% thị phần. Các xuất xứ còn lại chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ dưới 1%.
Có thể thấy, thị trường ô tô nhập khẩu Việt Nam đang dịch chuyển rất mạnh mẽ sang các loại xe xuất xứ từ Trung Quốc. Ngoài lợi thế về nhóm xe thương mại và chuyên dụng, ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc còn nắm lợi thế về giá và chủng loại khi xét ở loại hình xe du lịch phổ thông, đồng thời thuận với xu hướng điện hoá với nhờ các dòng xe năng lượng mới như hybrid và thuần điện.
Nhóm ô tô phổ thông giá thấp đến từ Indonesia đang có xu hướng sụt giảm sâu khi chất lượng sản phẩm không còn đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng trong nước. Các mẫu xe giá rẻ nhập khẩu từ đất nước vạn đảo như Mitsubishi Xforce và Xpander, Suzuki XL7, Toyota Wigo và Avanza Premio… ngày càng sụt giảm doanh số.
Các loại xe đến từ Thái Lan cũng trong tình thế tương tự dù chịu ảnh hưởng ít hơn từ xu hướng tiêu dùng. Đồng thời, một số dòng xe năng lượng mới mang các thương hiệu Nhật Bản cũng bắt đầu được các liên doanh chuyển về lắp ráp trong nước thay vì tiếp tục nhập khẩu từ Thái Lan hay Indonesia.
Trong khi đó, nếu chỉ xét riêng về tốc độ tăng trưởng thì các loại xe hạng sang và cao cấp đến từ Nhật Bản hay châu Âu lại cho thấy rõ dấu hiệu bứt phá. Đơn cử, ô tô nhập khẩu từ Đức tháng 1/2026 đạt 89 chiếc và gần 7,2 triệu USD, tăng đến 368,4% về lượng và tăng 715,7% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Ô tô nhập khẩu từ Nhật Bản chủ yếu là các dòng xe cao cấp hoặc một số xe hạng sang (chủ yếu là Lexus) đạt 256 chiếc và 13,6 triệu USD, tăng 7,6% về lượng song tăng đến 1.587% về giá trị so với tháng 1/2025.
Tăng đột biến nhất là ô tô nhập khẩu từ Nga. Cụ thể, lượng xe có xuất xứ từ Nga được đưa về nước trong tháng đầu năm nay đạt 378 chiếc trong khi giá trị đạt hơn 4,6 triệu USD, tăng vọt đến 4.625% về lượng và tăng 137,9% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
| Nhập khẩu ô tô nguyên chiếc theo xuất xứ tháng 1/2026 và cùng kỳ 2025 | ||||
| Xuất xứ | Tháng 1/2025 | Tháng 1/2025 | ||
| Lượng (chiếc) | Giá trị (USD) | Lượng (chiếc) | Giá trị (USD) | |
| Ấn Độ | 0 | 0 | 126 | 0,6 |
| Anh | 9 | 1,2 | 8 | 0,9 |
| Đức | 19 | 0,9 | 89 | 7,2 |
| Hàn Quốc | 15 | 0,5 | 14 | 0,4 |
| Mỹ | 5 | 0,4 | 7 | 0,3 |
| Indonesia | 2.621 | 38 | 4141 | 57,4 |
| Nga | 8 | 1,9 | 378 | 4,6 |
| Nhật Bản | 238 | 0,8 | 256 | 13,6 |
| Pháp | 0 | 0 | 1 | 0,08 |
| Thái Lan | 1.631 | 32,5 | 3015 | 62,2 |
| Trung Quốc | 2.528 | 69,7 | 6661 | 222 |
| Tổng | 7.074 | 146 | 14.696 | 369 |
| Nguồn số liệu: Cục Hải quan - Bộ Tài chính | ||||




