Điều quan trọng nhất là phải đưa khoa học, công nghệ đi vào đời sống kinh tế - xã hội
Sau 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhiều chuyển động mới đã được tạo ra từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, để khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, vẫn còn không ít việc phải làm. Phóng viên đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, Đại biểu Quốc hội khóa XV xung quanh nội dung này.
+ Thưa Phó Giáo sư, sau 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, theo ông, đâu là chuyển biến quan trọng nhất?
- Theo tôi, điều đáng ghi nhận nhất không chỉ nằm ở số lượng văn bản được ban hành hay bao nhiêu chương trình, đề án đã được triển khai, mà là sự thay đổi trong tư duy phát triển.
Trước đây, khoa học, công nghệ thường được nhìn nhận là lĩnh vực của các viện nghiên cứu, trường đại học hay các nhà khoa học. Chuyển đổi số cũng chủ yếu được hiểu là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính. Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cách tiếp cận đó đã thay đổi khá rõ.
Hiện nay, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định là động lực phát triển, gắn trực tiếp với nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây không còn là nhiệm vụ riêng của ngành khoa học mà trở thành yêu cầu chung đối với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và cả hệ thống chính trị.
Điều đáng mừng là nhiều địa phương đã chủ động lựa chọn những lĩnh vực ưu tiên phù hợp với điều kiện thực tiễn; doanh nghiệp cũng quan tâm hơn đến chuyển đổi số và đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Đó là những tín hiệu tích cực, cho thấy Nghị quyết đã từng bước đi vào cuộc sống.
Tất nhiên, 1 năm 6 tháng chưa phải khoảng thời gian dài để đánh giá đầy đủ hiệu quả của một nghị quyết có tầm chiến lược. Nhưng, việc tạo được sự thống nhất về nhận thức là bước khởi đầu rất quan trọng. Khi nhận thức đã thay đổi thì hành động sẽ quyết liệt hơn và việc huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học, công nghệ cũng thuận lợi hơn.

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi. Ảnh: Quochoi
+ Nhiều ý kiến cho rằng, điểm nghẽn hiện nay không phải ở công nghệ mà chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Ông cho rằng nhận định này có ý nghĩa như thế nào?
- Tôi hoàn toàn đồng tình với nhận định đó. Vấn đề là làm thế nào để những chủ trương ấy được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, tạo ra giá trị cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, ở một số nơi vẫn còn tình trạng triển khai theo từng lĩnh vực riêng lẻ, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, giữa Trung ương với địa phương hoặc giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp. Điều này làm giảm hiệu quả của quá trình chuyển đổi số cũng như hoạt động đổi mới sáng tạo.
Một điểm nghẽn khác là sự kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn chưa thật sự chặt chẽ. Không ít kết quả nghiên cứu có giá trị nhưng chưa tìm được địa chỉ ứng dụng, trong khi doanh nghiệp lại gặp khó khi tiếp cận nguồn lực khoa học, công nghệ. Nếu khoảng cách này không được thu hẹp thì rất khó hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đúng nghĩa.
Theo tôi, cần chuyển mạnh từ cách làm theo quy trình sang cách làm hướng tới kết quả cuối cùng. Mỗi chương trình, mỗi nhiệm vụ cần được đánh giá bằng hiệu quả mang lại cho xã hội, chứ không chỉ dừng ở việc hoàn thành thủ tục hay tiến độ.
Đồng thời, phải phát huy vai trò của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện. Khi trách nhiệm được xác định rõ, việc phối hợp giữa các cấp, các ngành sẽ chặt chẽ hơn, qua đó tạo chuyển biến thực chất trong triển khai Nghị quyết.
+ Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị quyết số 57-NQ/TW là đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước. Theo ông, cần tập trung vào những giải pháp nào để mục tiêu đó sớm trở thành hiện thực?
- Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải đưa khoa học, công nghệ đi vào đời sống kinh tế - xã hội, chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động nghiên cứu hay quản lý nhà nước.
Muốn vậy, trước hết phải coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp là nơi nắm bắt nhanh nhất nhu cầu của thị trường, đồng thời cũng là nơi chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng. Nếu khoa học không gắn với doanh nghiệp thì rất khó tạo ra sức lan tỏa đối với nền kinh tế.

Máy tính lượng tử có khả năng xử lý lượng lớn các phép tính song song. Ảnh minh họa: Getty
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để thúc đẩy mối liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Mỗi chủ thể đều có thế mạnh riêng, nhưng chỉ khi kết nối thành một chuỗi thống nhất thì tri thức mới có thể chuyển hóa thành năng lực sản xuất và sức cạnh tranh.
Tôi cũng cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ sang tư duy kiến tạo. Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp hay nhà khoa học, nhưng cần tạo lập môi trường thuận lợi để các ý tưởng mới được thử nghiệm, các công nghệ mới được ứng dụng và các mô hình sáng tạo có cơ hội phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay, chuyển đổi số cũng cần được nhìn rộng hơn. Không chỉ là số hóa quy trình hay cung cấp dịch vụ công trực tuyến, mà phải hướng đến thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất và khai thác hiệu quả dữ liệu. Khi dữ liệu trở thành nguồn lực phát triển, doanh nghiệp đổi mới công nghệ mạnh hơn và năng suất lao động được cải thiện, khoa học, công nghệ mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
+ Nhiều chuyên gia cho rằng, muốn làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn hay công nghệ lượng tử thì phải bắt đầu từ khoa học cơ bản và nguồn nhân lực chất lượng cao. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
- Tôi hoàn toàn đồng tình. Muốn đi xa thì phải có nền móng vững chắc, và khoa học cơ bản chính là nền móng đó.
Việt Nam có thể tiếp nhận công nghệ, có thể nhập khẩu thiết bị hiện đại, nhưng không thể mua được năng lực sáng tạo. Năng lực ấy chỉ được hình thành thông qua quá trình tích lũy tri thức, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng môi trường nghiên cứu đủ mạnh.
Đó cũng là lý do tôi cho rằng đầu tư cho khoa học cơ bản cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư chiến lược. Hiệu quả của nó có thể chưa nhìn thấy ngay trong một vài năm, nhưng sẽ tạo nền tảng để đất nước từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng lực tự chủ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đi cùng với đầu tư cho khoa học cơ bản là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này không chỉ là đào tạo thêm kỹ sư hay nhà khoa học, mà còn phải đổi mới phương thức đào tạo theo hướng gắn chặt với nghiên cứu, thực tiễn và nhu cầu của doanh nghiệp. Khi người học được tiếp cận sớm với các bài toán thực tế, được làm việc trong môi trường sáng tạo và có điều kiện phát huy năng lực, chúng ta sẽ từng bước hình thành đội ngũ nhân lực đủ sức đảm đương những lĩnh vực công nghệ chiến lược trong tương lai.
Tôi tin rằng, nếu tiếp tục hoàn thiện thể chế, khơi thông các nguồn lực, đầu tư đúng mức cho khoa học cơ bản, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, thì Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ tạo ra những chuyển biến thực chất hơn trong giai đoạn tới. Đó không chỉ là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mà còn mở ra dư địa phát triển mới, góp phần đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên số.
+ Xin trân trọng cảm ơn ông!




