Nguy cơ châu Âu “rơi bẫy” khi thoát khí đốt Nga
Châu Âu đã dành nhiều năm để tìm cách khóa “vòi khí đốt” từ Nga. Nhưng đúng lúc cánh cửa ấy sắp đóng lại, một nghịch lý khá trớ trêu xuất hiện bởi khí đốt Nga vẫn chảy vào châu Âu, thậm chí có thời điểm còn nhiều hơn trước.
Trong một báo cáo công bố hồi đầu tháng 7-2026, Cơ quan Hợp tác các Cơ quan Quản lý năng lượng của Liên minh châu Âu (EU)-ACER cho biết, từ tháng 1 đến tháng 5-2026, nhập khẩu khí đốt qua đường ống tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi nhập khẩu khí hóa lỏng (LNG) tăng 11%. Trong vòng 6 tháng đầu năm, EU mua gần như toàn bộ sản lượng của nhà máy Yamal LNG tại Siberia, do công ty tư nhân Novatek của Nga kiểm soát, đạt mức 9,89 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025.
![]() |
| Một tàu chở LNG từ Qatar cập cảng châu Âu. Ảnh: IEEFA |
Theo ACER, việc EU tăng nhập khẩu khí LNG từ Nga là do các nước và doanh nghiệp tranh thủ nhập hàng trước khi các lệnh hạn chế mới có hiệu lực. Ngoài ra, xung đột ở Trung Đông cũng làm giảm nguồn cung LNG từ Qatar, đặc biệt là sau các rủi ro liên quan đến eo biển Hormuz. Vì vậy, trong giai đoạn châu Âu tích trữ khí đốt cho mùa đông, Nga tiếp tục trở thành một nguồn cung quan trọng.
Những con số thống kê cho thấy nghịch lý năng lượng ở châu Âu, bởi theo lộ trình được thông qua, EU sẽ chấm dứt nhập LNG từ Nga vào cuối năm 2026, khí đốt qua đường ống vào cuối tháng 9-2027. Và nếu nhìn vào các văn kiện chính sách năng lượng của EU, có thể thấy thời kỳ khí đốt Nga ở châu Âu đã gần tới hồi kết.
Nhưng đằng sau câu chuyện tưởng như ngược đời ấy là một bài toán khó hơn nhiều, đó là châu Âu phải làm thế nào để tự chủ được về năng lượng sau khi thực sự thoát khỏi sự phụ thuộc vào Moscow? Bởi thực tế cho thấy, châu Âu dường như đang phải chuyển chiếc khóa năng lượng của mình sang tay nhà cung cấp khác, để rồi đối mặt với những rủi ro có khi còn lớn hơn trước.
Nghiên cứu mới của Viện phân tích kinh tế và tài chính năng lượng (IEEFA) nhận định, sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng phát, EU đã giảm mạnh sự phụ thuộc vào khí đốt đường ống của Nga, song lại chuyển sang nhập khẩu nhiều LNG hơn, chủ yếu từ Mỹ và Qatar. Điều này giúp đa dạng hóa nguồn cung, nhưng cũng khiến châu Âu đối mặt với những rủi ro địa-chính trị mới.
Giữa những căng thẳng thương mại với chính quyền của Tổng thống Donald Trump, LNG hoàn toàn có thể bị biến thành đòn bẩy để Washington gây sức ép với EU. Trước đây, châu Âu lo Moscow có thể sử dụng năng lượng như một công cụ gây sức ép. Nếu trong tương lai, nguồn cung LNG lại tập trung quá lớn vào Mỹ, Brussels hoàn toàn có thể sẽ phải đối mặt với vấn đề tương tự. Còn nguồn cung từ Qatar cũng thiếu ổn định hơn trong bối cảnh điểm nghẽn năng lượng Hormuz chưa biết khi nào được khai thông.
Bình luận về tình thế không mấy dễ chịu này của châu Âu, chuyên gia Philippe Chalmin, giáo sư tại Đại học Paris Dauphine và là chuyên gia về thị trường nguyên nhiên liệu cho rằng, điều đó còn cho thấy một thực tế khác khá mỉa mai: Châu Âu cần LNG Nga để có thể nhập khẩu ít hơn từ Mỹ.
Nhưng cũng phải công bằng mà nói, châu Âu đã đi một quãng đường rất dài kể từ cuộc khủng hoảng năng lượng năm 2022 để giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung khí đốt từ Nga. Theo Ủy ban châu Âu, tỷ trọng khí đốt Nga trong tổng nhập khẩu khí đốt của EU đã giảm từ khoảng 45% năm 2021 xuống 12% năm 2025; lượng nhập khẩu giảm từ 152 tỷ mét khối xuống còn 36 tỷ mét khối. Trong khi đó, nhập khẩu từ Na Uy tăng lên 89,3 tỷ mét khối và từ Mỹ lên tới 75,6 tỷ mét khối trong năm 2025.
Sau năm 2022, LNG Mỹ trở thành một trong những “chiếc phao” quan trọng giúp châu Âu vượt qua cú sốc nguồn cung. Nhưng cái gì cũng có giá của nó. Khác với khí đốt Nga từng chảy qua đường ống theo các hợp đồng dài hạn, LNG là một thị trường linh hoạt hơn nhiều. Tàu LNG từ Mỹ có thể đổi hướng theo giá. Nếu khách hàng châu Á trả cao hơn, hàng hóa có thể chạy sang châu Á. Châu Âu khi đó phải rút hầu bao nhiều hơn nếu muốn kéo tàu quay về các cảng Rotterdam, Zeebrugge hay Dunkirk.
Nhưng “giảm phụ thuộc” và “không còn cần” là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Nga hiện vẫn đáp ứng khoảng 12% nhu cầu khí đốt của khối. Riêng tại Hungary và Slovakia, tỷ lệ này lên tới 70-80%. Khi nguồn cung LNG từ Trung Đông trở nên bấp bênh bởi bất ổn ở khu vực và eo biển Hormuz, khí đốt Nga lại có một lợi thế như vốn có, đó là gần, có sẵn hạ tầng để vận chuyển và cạnh tranh về giá.
Rõ ràng, châu Âu có thể tìm nhiều cách để giải bài toán tự chủ năng lượng của mình. Một nguồn cung đa dạng thực sự mới là giải pháp bền vững cho châu Âu. Na Uy có thể cung cấp thêm khí qua đường ống. Mỹ chỉ nên tiếp tục là nguồn cung LNG quan trọng chứ không phải là không thể thay thế. Algeria và Azerbaijan có thể bổ sung nguồn cung từ phía Nam. Qatar và các nhà sản xuất Trung Đông vẫn cần thiết khi điều kiện an ninh hàng hải cho phép.
Nhưng không nguồn nào nên trở thành chiếc cột duy nhất để chống đỡ mái nhà năng lượng khổng lồ của châu Âu. Những bài học đắt giá với Nga mà châu Âu đã phải trả vẫn còn nguyên giá trị.






