Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48: Định hình giai đoạn phát triển mới
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 diễn ra trong bối cảnh địa chính trị biến động, tập trung củng cố đoàn kết, nâng cao năng lực tự cường và thúc đẩy hợp tác khu vực.
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 diễn ra tại Cebu, Philippines (ngày 7-8/5) và các hội nghị liên quan với chủ đề "Cùng chèo lái tương lai chung" là những sự kiện quan trọng nhất trong năm Chủ tịch ASEAN 2026 của Philippines. Hội nghị mang ý nghĩa đặc biệt khi ASEAN bước vào giai đoạn phát triển mới sau 10 năm xây dựng Cộng đồng ASEAN giai đoạn năm 2015-2025.
Nhân dịp này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với chuyên gia Kinh tế ASEAN, PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng - Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng - Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Khởi đầu cho hành trình bứt phá của ASEAN
- Thưa ông, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 mang ý nghĩa như thế nào đối với việc khẳng định bản lĩnh, vị thế và vai trò trung tâm của ASEAN trong bối cảnh hiện nay?
PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Ý nghĩa của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 cần được nhìn nhận ở hai cấp độ. Về mặt hình thức, đây là hội nghị thường niên của các nhà lãnh đạo ASEAN. Song về thực chất, đây là phép thử đối với năng lực của ASEAN trong việc tiếp tục giữ vai trò nền tảng hợp tác và gắn kết khu vực, trong bối cảnh Đông Nam Á chịu sức ép ngày càng lớn từ cạnh tranh địa chính trị, phân mảnh kinh tế và các thách thức an ninh phi truyền thống.
Hội nghị diễn ra trong năm đầu tiên ASEAN triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 với mục tiêu xây dựng một ASEAN tự cường, đổi mới, năng động và lấy người dân làm trung tâm. Vì vậy, Hội nghị Cebu có ý nghĩa như một bước khởi động để chuyển hóa tầm nhìn dài hạn thành các ưu tiên hành động cụ thể, nhất là trong các lĩnh vực an ninh năng lượng, an ninh lương thực, bảo hộ công dân, ổn định chuỗi cung ứng, kết nối và ứng phó khủng hoảng.
Ý nghĩa của Hội nghị thể hiện trên 3 phương diện chính. Một là, Hội nghị cho thấy ASEAN vẫn giữ được năng lực tập hợp nội khối và kết nối các đối tác lớn. Hiện nay, chưa có cơ chế nào ngoài ASEAN có thể quy tụ đầy đủ các quốc gia Đông Nam Á và kết nối với các đối tác lớn trong một khuôn khổ đối thoại tương đối ổn định. Thông qua các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, các nước Đông Nam Á có thêm sức mạnh tập thể; đồng thời hạn chế nguy cơ bị tách thành những quan hệ song phương riêng lẻ, từng nước dễ chịu sức ép bất cân xứng từ các cường quốc.
Hai là, Hội nghị cho thấy vai trò trung tâm của ASEAN đang được kiểm nghiệm bằng các vấn đề rất thực tế. Cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc, căng thẳng Biển Đông, biến động năng lượng, lương thực, rủi ro đối với lao động di cư và công dân ở nước ngoài đều đặt ra yêu cầu mới đối với hợp tác khu vực. Việc Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN nhấn mạnh an ninh năng lượng, an ninh lương thực và bảo hộ công dân cho thấy cách tiếp cận an ninh của ASEAN đang thực tế hơn, an ninh không đơn thuần là quân sự hay ngoại giao mà còn gắn với sinh kế, khả năng chống chịu và đời sống hằng ngày của người dân.
Ba là, Hội nghị cũng phản ánh rõ cả điểm mạnh và hạn chế của ASEAN. Điểm mạnh là khả năng duy trì đối thoại, giảm ngờ vực và tạo thói quen tham vấn giữa các nước có lợi ích khác nhau. Tuy nhiên, cơ chế đồng thuận nhiều khi khiến ASEAN phản ứng chậm trước các vấn đề phức tạp như Myanmar hay Biển Đông. Vì vậy, ASEAN cần thêm diễn đàn đối thoại, cần nâng cao năng lực hành động thực chất.
Ý nghĩa sâu xa nhất của Hội nghị lần này là liệu ASEAN có thể chuyển từ vai trò trung tâm mang tính thủ tục sang vai trò trung tâm về thực chất hay không. ASEAN phải xác lập được ưu tiên, phối hợp phản ứng, bảo vệ luật pháp quốc tế và tạo ra hợp tác có giá trị cụ thể cho các quốc gia thành viên và người dân. Nếu làm được điều đó, Hội nghị tại Cebu sẽ góp phần củng cố uy tín, vai trò trung tâm và sức sống của ASEAN trong giai đoạn triển khai Tầm nhìn 2045.

Phiên Toàn thể Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
- Năm 2026 là năm đầu tiên ASEAN thực hiện Tầm nhìn 2045, theo ông, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong việc định hình các ưu tiên chiến lược, củng cố liên kết nội khối và mở ra chặng đường phát triển mới cho ASEAN trong những thập niên tới?
PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 có ý nghĩa đặc biệt vì được diễn ra ngay ở điểm khởi đầu của một chu kỳ chiến lược mới. Năm 2026 là năm đầu tiên ASEAN triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 cùng các kế hoạch trên các trụ cột chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa xã hội và kết nối. Vì vậy, Hội nghị là dịp giúp ASEAN rà soát hợp tác, kiểm nghiệm khả năng chuyển một tầm nhìn dài hạn thành các ưu tiên hành động cụ thể.
Vai trò của Hội nghị thể hiện ở 3 điểm chính: Thứ nhất, Hội nghị giúp ASEAN xác lập lại các ưu tiên chiến lược trong một môi trường khó khăn, bất ổn hơn nhiều so với thời điểm hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Cạnh tranh giữa các cường quốc gay gắt hơn, chuỗi cung ứng bất ổn hơn, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, trong khi an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu và gián đoạn công nghệ đều tác động trực tiếp đến khu vực. Những vấn đề này không tồn tại riêng lẻ mà liên kết với nhau. Một cuộc xung đột ngoài Đông Nam Á có thể làm tăng giá nhiên liệu, đẩy chi phí lương thực lên cao, tác động đến tuyến hàng hải, lao động di cư và cả ổn định xã hội ở từng nước.
Vì vậy, Hội nghị lần này đặt ra yêu cầu ASEAN phải cụ thể hóa khái niệm "tự cường", phải được thể hiện bằng năng lực thực tế trong dự báo rủi ro, hấp thụ cú sốc, điều phối chính sách và duy trì định hướng phát triển trong môi trường nhiều biến động.
Thứ hai, Hội nghị có thể tạo động lực để ASEAN củng cố liên kết nội khối một cách thực chất hơn. Vấn đề lớn của ASEAN hiện nay là khoảng cách giữa cam kết và thực thi. Muốn Tầm nhìn 2045 đi vào đời sống, ASEAN cần ưu tiên những nền tảng có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh chung, gồm kết nối hạ tầng, hài hòa tiêu chuẩn thương mại, hạ tầng số, hợp tác năng lượng, liên kết tài chính, di chuyển lao động có kỹ năng và cơ chế phối hợp khi xảy ra khủng hoảng. Đây là các điều kiện then chốt để ASEAN thực sự vận hành như một không gian kinh tế phát triển gắn kết hơn.
Thứ ba, Hội nghị góp phần định hình mô hình phát triển mới cho ASEAN. Trong các thập kỷ tới, khu vực này không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ, tài nguyên và lợi thế sản xuất truyền thống. Động lực mới phải đến từ chuyển đổi số, công nghiệp xanh, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, chuỗi cung ứng bền vững và quản trị khu vực hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, chúng ta không nên kỳ vọng rằng một cuộc hội nghị lại có thể quyết định toàn bộ tương lai của ASEAN. Ý nghĩa thực chất của Hội nghị năm nay nằm ở việc liệu ASEAN có khả năng chuyển từ tầm nhìn rộng sang ưu tiên cụ thể, từ đồng thuận hình thức sang đồng thuận có trách nhiệm và từ cân bằng đối ngoại sang củng cố nội lực. Nếu đạt được điều đó, Hội nghị tại Cebu sẽ là bước khởi động quan trọng cho Tầm nhìn 2045; nếu không khoảng cách giữa tham vọng và năng lực thực thi của ASEAN sẽ tiếp tục kéo dài.
Dấu ấn chủ động của Việt Nam
- Trong trụ cột kinh tế của ASEAN hiện nay, Việt Nam đang ngày càng thể hiện vai trò chủ động hơn thông qua thúc đẩy thương mại, đầu tư, kết nối hạ tầng và đề xuất nhiều sáng kiến mới về chuỗi cung ứng, năng lượng, hạ tầng số. Theo ông, điều gì đang tạo nên vị thế ngày càng nổi bật của Việt Nam trong tiến trình liên kết kinh tế ASEAN?
PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Theo tôi, vị thế ngày càng nổi bật của Việt Nam trong hội nhập kinh tế ASEAN không phải là ngẫu nhiên. Nó phản ánh sự thay đổi thực chất của nền kinh tế Việt Nam, mức độ gắn kết sâu hơn với khu vực và cách tiếp cận chủ động hơn trong hợp tác ASEAN. Vì vậy, vị thế đó có thể được nhìn nhận từ các điểm chính sau:
Trước hết, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế năng động của ASEAN. Từ vị trí "người đi sau", Việt Nam vươn lên thành trung tâm sản xuất, xuất khẩu và thu hút đầu tư quan trọng trong khu vực. Thương mại Việt Nam - ASEAN tăng mạnh trong ba thập kỷ qua cho thấy Việt Nam đã vượt ra khỏi vai trò tham gia thị trường, từng bước trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất, thương mại và đầu tư của khu vực. Hiện nay, ảnh hưởng kinh tế không dừng ở quy mô GDP mà được thể hiện qua khả năng kết nối chuỗi cung ứng, hấp thụ dòng vốn và tham gia vào các ngành có giá trị gia tăng cao.
Việt Nam cũng đang có vai trò rõ hơn trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Khi các doanh nghiệp quốc tế đa dạng hóa địa điểm sản xuất để giảm rủi ro địa chính trị, chi phí và bất ổn thương mại, Việt Nam nổi lên như một điểm đến sản xuất và logistics quan trọng ở Đông Nam Á lục địa. Điều này giúp Việt Nam có tiếng nói thực tiễn hơn trong các thảo luận của ASEAN về tạo thuận lợi thương mại, hiện đại hóa hải quan, kết nối hạ tầng, nâng cấp công nghiệp và tăng khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.
Vị thế của Việt Nam cũng được củng cố bởi chiến lược hội nhập mở và đa tầng. Việt Nam vừa tham gia sâu vào các khuôn khổ kinh tế ASEAN, vừa là thành viên của nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng như CPTPP, RCEP... Quá trình này giúp Việt Nam tích lũy kinh nghiệm cải cách thể chế, nâng chuẩn quản trị kinh tế và điều chỉnh chính sách theo các cam kết cao hơn về thương mại, đầu tư, dịch vụ, lao động, môi trường, thương mại số và minh bạch hóa.
Quan trọng hơn, Việt Nam đang chuyển từ tư duy tham gia sang đóng góp và đề xuất. Hội nhập ASEAN được gắn với chương trình hành động trong nước, với bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp. Nhờ đó các cam kết khu vực đi vào những lĩnh vực cụ thể như mở rộng thị trường, kết nối chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Trong giai đoạn tới, ASEAN cần tập trung nhiều hơn vào hạ tầng số, chuyển đổi xanh, kết nối năng lượng, chuỗi giá trị bền vững và an ninh kinh tế. Việt Nam nổi bật vì đang đứng ở giao điểm của các xu hướng: một nền sản xuất mở rộng nhanh, một nền kinh tế tiếp tục cải cách và một thành viên ASEAN ngày càng chủ động thúc đẩy các sáng kiến thực chất.

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 diễn ra trong bối cảnh địa chính trị biến động, tập trung củng cố đoàn kết, nâng cao năng lực tự cường và thúc đẩy hợp tác khu vực
- ASEAN hiện đối mặt nguy cơ phân hóa về trình độ phát triển giữa các quốc gia thành viên. Theo ông, Việt Nam cần phát huy vai trò ra sao để vừa thúc đẩy tăng trưởng chung của khu vực vừa góp phần giữ vững tính bao trùm và sự gắn kết nội khối?
PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Chênh lệch phát triển trong ASEAN không phải là vấn đề mới, vấn đề này đã tồn tại từ khi ASEAN mở rộng thành viên, đặc biệt sau khi Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia gia nhập trong thập niên 1990. Điểm khác hiện nay là khoảng cách ấy đang trở nên đa chiều hơn, về thu nhập, năng lực thể chế, chất lượng hạ tầng, trình độ nhân lực, khả năng tham gia kinh tế số, chuyển đổi xanh và các chuỗi giá trị mới.
Đông Timo trở thành thành viên thứ 11 càng làm ASEAN đầy đủ hơn về mặt địa lý nhưng cũng đa dạng và khó điều phối hơn. Trong bối cảnh đó, tôi cho rằng Việt Nam có hai vai trò chính, vừa thúc đẩy tăng trưởng chung của khu vực, vừa góp phần giữ tính bao trùm và gắn kết nội khối.
Về vai trò thứ nhất, Việt Nam có lợi thế vì đã đi qua chính quá trình chuyển đổi mà nhiều thành viên kém phát triển hơn đang đối mặt. Từ một nền kinh tế thu nhập thấp, hạ tầng còn hạn chế, năng lực thể chế chưa cao đến một nền kinh tế mở hơn, dựa nhiều hơn vào sản xuất, xuất khẩu và hội nhập chuỗi cung ứng. Kinh nghiệm của Việt Nam không phải là một mô hình hoàn hảo nhưng có giá trị thực tiễn vì nó cho thấy cải cách thể chế, thu hút đầu tư, tạo thuận lợi thương mại, nâng cấp hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực cần được triển khai từng bước như thế nào trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế.
Vai trò thứ hai của Việt Nam là thúc đẩy kết nối thực chất trong ASEAN. Thu hẹp khoảng cách phát triển không thể chỉ dựa vào viện trợ hay hỗ trợ kỹ thuật mà phải dựa vào liên kết kinh tế: đường bộ, cảng biển, logistics, lưới điện, hạ tầng số, hải quan điện tử và chuỗi giá trị xuyên biên giới. Nếu các nền kinh tế kém phát triển hơn không được kết nối tốt hơn với thị trường, công nghệ và dòng vốn, khoảng cách phát triển sẽ tiếp tục bị nới rộng.
Bên cạnh đó, Việt Nam nên ủng hộ một cách tiếp cận bao trùm hơn trong các chương trình mới của ASEAN. Giai đoạn tới, hội nhập khu vực sẽ xoay quanh kinh tế số, công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, thương mại điện tử, nông nghiệp thông minh và lao động có kỹ năng. Nếu chỉ các nền kinh tế phát triển hơn tận dụng được các lĩnh vực này, ASEAN sẽ tăng trưởng nhưng kém gắn kết. Vì vậy, các sáng kiến lớn cần đi kèm hỗ trợ thể chế, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và cơ chế chuyển tiếp phù hợp cho các thành viên đi sau.
Xin cảm ơn ông!
PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Việt Nam không cần 'nói thay' các nước kém phát triển hơn trong khối mà cần góp phần tạo điều kiện để mọi thành viên có khả năng tham gia và hưởng lợi từ hội nhập. Một ASEAN gắn kết không phải là ASEAN có các nền kinh tế giống nhau mà là ASEAN không để bất kì một thành viên nào bị bỏ lại phía sau.




