Khi vốn ngân hàng gặp “bài toán khó” của công nghệ
Muốn tăng trưởng dựa vào công nghệ và chuyển đổi số, theo khuyến nghị của các chuyên gia, nền kinh tế cần một “mạch tiền" được thiết kế để dẫn vốn vào những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh trong giai đoạn tới như R&D, đổi mới sáng tạo, dữ liệu...
![]() |
| Mức độ phân bổ vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ còn chồng chéo, dàn trải. Ảnh minh hoạ: H.D |
Khơi thông vốn cho R&D
Theo nghiên cứu của các chuyên gia tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026 do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức mới đây, Việt Nam cần huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức khoảng 40% GDP để duy trì tăng trưởng cao, đồng thời phải tăng mạnh chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) lên 1,5-2% GDP vào năm 2030. Đây là mức tiệm cận các nền kinh tế đổi mới sáng tạo trong khu vực. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế hiện nay vẫn rất lớn, đặc biệt khi xét trên cả quy mô lẫn chất lượng dòng vốn.
Số liệu từ các nghiên cứu cho thấy, chi cho R&D của Việt Nam mới chỉ dao động quanh 0,4-0,5% GDP, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình toàn cầu và chỉ bằng khoảng 1/4 mục tiêu đề ra. Chi tiêu của doanh nghiệp cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt 0,2% GDP, thấp hơn nhiều so với mức 1,7% ở Trung Quốc và 3,6% ở Hàn Quốc. Điều đáng nói, không chỉ quy mô vốn thấp, mà cấu trúc dòng vốn cũng chưa hợp lý, thiếu các kênh dẫn vốn dài hạn, chấp nhận rủi ro cho công nghệ.
PGS. TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính thẳng thắn chỉ ra, mức đầu tư hạn chế cho R&D của cả khu vực công và tư nhân ở Việt Nam dẫn đến không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển hạ tầng đào tạo, R&D trong các ngành, nhất là các ngành công nghệ cao. Hơn nữa, mức độ phân bổ vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ còn chồng chéo, dàn trải, chưa tập trung vào lĩnh vực ưu tiên của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ.
Trong bức tranh đó, hệ thống ngân hàng nổi lên như một kênh dẫn vốn then chốt nhưng cũng đang đối mặt nhiều thách thức. Bản chất của tín dụng ngân hàng là ưu tiên an toàn, trong khi đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo lại mang tính rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài.
Dù vậy, vẫn có nhiều tín hiệu tích cực. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến cuối tháng 10/2025, lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có tốc độ tăng trưởng tín dụng lên tới 30,36%. NHNN cũng luôn chỉ đạo các tổ chức tín dụng định hướng dòng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế xanh. Nhiều tổ chức tín dụng đã chủ động triển khai các gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Một số ngân hàng thương mại lớn đã thiết kế các chương trình tài trợ vốn cho doanh nghiệp chuyển đổi số, với lãi suất thấp hơn thông thường, kết hợp tư vấn giải pháp công nghệ. Đây là cách tiếp cận mới, không chỉ cho vay mà còn đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi.
Tuy nhiên, quy mô và tốc độ giải ngân vẫn là vấn đề cần bàn. Hiện các ngân hàng đang triển khai Chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số... Theo báo cáo kinh tế - xã hội 2 tháng đầu năm 2026 của Bộ Tài chính, Chương trình này đang tiếp cận khoảng 11 dự án thuộc lĩnh vực điện, giao thông nhưng chưa phát sinh giải ngân.
Hợp tác công - tư để thu hút dòng vốn lớn vào hạ tầng số
Chính vì vậy, xu hướng kết hợp giữa tín dụng ngân hàng và các kênh vốn khác đang hình thành. Theo Nghị định 264/2025/NĐ-CP của Chính phủ về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương, Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia được thiết kế theo mô hình “vốn mồi – thị trường hóa”, trong đó Nhà nước chỉ góp tối đa 30%, phần còn lại huy động từ khu vực tư nhân.
PGS.TS. Vũ Sỹ Cường đánh giá, cơ chế này thể hiện rõ triết lý “đầu tư công, quản trị tư” và “dùng đầu tư công để dẫn dắt đầu tư tư”, đồng thời chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn để lấy đột phá.
Nhưng từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch Tập đoàn Công nghệ CMC cho rằng, cần có những cơ chế tài chính đột phá hơn nữa. Đó là phải hoàn thiện khung pháp lý về ưu đãi thuế và vốn cho doanh nghiệp dữ liệu, AI, đồng thời đẩy mạnh hợp tác công - tư để thu hút dòng vốn lớn vào hạ tầng số.
Theo lãnh đạo CMC, hạ tầng dữ liệu không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là “xương sống” của nền kinh tế số. Do đó, cần những gói đầu tư quy mô lớn, dài hạn, có sự tham gia của cả ngân hàng, quỹ đầu tư và doanh nghiệp công nghệ.
Một hướng đi khác đang được nhấn mạnh là phát triển thị trường vốn cho đổi mới sáng tạo, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng. Các công cụ như trái phiếu công nghệ, quỹ đầu tư chuyên ngành, hay sàn giao dịch dữ liệu có thể trở thành kênh huy động vốn mới. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, ngân hàng vẫn là “mạch máu” chính của nền kinh tế. Vấn đề đặt ra là làm sao để dòng vốn tín dụng chảy vào đúng khu vực cần thiết mà không làm gia tăng rủi ro hệ thống.
Các chuyên gia cho rằng, giải pháp nằm ở việc kết hợp nhiều lớp công cụ: tín dụng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, đồng tài trợ công - tư và quỹ đầu tư mạo hiểm. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò thiết kế cơ chế, chia sẻ rủi ro; ngân hàng đóng vai trò dẫn vốn; doanh nghiệp là trung tâm sử dụng vốn hiệu quả.
GS.TS. Trần Thị Vân Hoa nhấn mạnh, cần triển khai cơ chế đồng tài trợ R&D, trong đó Nhà nước có thể tài trợ 30-70% kinh phí, phần còn lại do doanh nghiệp đối ứng. Đây là cách để giảm áp lực tài chính ban đầu và khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ.
Một điểm nghẽn khác là thủ tục tiếp cận vốn vẫn còn phức tạp, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp thực sự tiếp cận được vẫn thấp. Vì vậy, cải cách thể chế cần đi trước một bước, không chỉ để “mở khóa” dòng vốn, mà còn để đảm bảo dòng vốn được sử dụng hiệu quả. Khi Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp cùng vận hành trong một hệ sinh thái tài chính linh hoạt, minh bạch và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, nguồn vốn mới thực sự trở thành động lực cốt lõi cho tăng trưởng dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn tới. Nếu không, “bài toán khó” của vốn ngân hàng sẽ tiếp tục là điểm nghẽn lớn nhất của nền kinh tế số.





