Dòng sự kiện
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

“Mở lối” cho bảo tàng tư nhân phát triển

Sau hơn hai thập niên kể từ khi Luật Di sản văn hóa 2001 mở đường, số lượng bảo tàng ngoài công lập tại Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng với hơn 70 bảo tàng tư nhân/bảo tàng ngoài công lập đang hoạt động. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các bảo tàng tư nhân đang phải đối mặt với nhiều bài toán hóc búa về cả cơ chế, nguồn lực và chuyên môn. Nghị quyết 80-NQ/TW xác định văn hóa là nền tảng, là nguồn lực nội sinh, là động lực phát triển, vì vậy đã đến lúc bảo tàng tư nhân cần được “mở lối” bằng một cơ chế đồng hành đúng nghĩa, bằng sự hỗ trợ của nhiều bên, để có thể “cởi bỏ” áp lực sinh tồn, đóng góp tích cực vào sự phát triển của các giá trị văn hóa quốc gia.

Tiếp sức cho “bảo tàng vi xã hội”

+ Thưa ông, trong bối cảnh chúng ta đang thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, số lượng các bảo tàng tư nhân tăng lên nhanh chóng. Ông đánh giá thế nào về vai trò của các bảo tàng tư nhân?

- Các bảo tàng của Nhà nước kể những câu chuyện lịch sử - văn hóa rất lớn, rất chung nhưng các bảo tàng tư nhân vẫn có những giá trị riêng khi nó tập trung kể những câu chuyện cụ thể. Đó có thể là câu chuyện của một gia đình, một gia tộc, một con người… tham gia vào phát triển lịch sử, văn hóa, xã hội như thế nào. Sự kết hợp giữa bảo tàng công lập (bảo tàng tổng thể) với bảo tàng tư nhân (cụ thể, vi xã hội), người ta sẽ thấy được bức tranh vô cùng đa dạng, sinh động về lịch sử, văn hóa của đất nước. Bởi lẽ, mỗi cá nhân hay một gia đình, một gia tộc tham gia vào các sự kiện của đất nước với hoàn cảnh rất khác nhau, có thể họ là doanh nhân, là trí thức, là nghệ sĩ… mỗi người đều có tâm thế cũng như đóng góp rất khác nhau. Chính những tư liệu, những ký ức của những con người ấy sẽ neo giữ truyền thống của mỗi gia đình, neo giữ một phần lịch sử đất nước.

Ở một phương diện khác, kể từ sau đổi mới, một bộ phận người dân bắt đầu có điều kiện kinh tế, các doanh nhân có tiền bắt đầu tích lũy, sưu tầm thậm chí hồi hương các hiện vật quý, cổ vật hay các hiện vật có giá trị lịch sử, hay tư liệu báo chí… Tất cả những điều đó cho chúng ta thấy sự có mặt của các bảo tàng tư nhân bên cạnh hệ thống bảo tàng công lập đã tạo nên bức tranh toàn cảnh đa sắc màu, đồng thời nó góp phần gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa - lịch sử của đất nước.

Điều quan trọng nữa là các bảo tàng tư nhân còn góp phần hình thành nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn. Nếu chúng ta biết phát huy, kết nối hệ thống bảo tàng cả tư nhân và công lập để thúc đẩy văn hóa - du lịch thì chắc chắn rằng sẽ đem lại những nguồn lợi kinh tế không nhỏ cho quốc gia.

Đặc biệt, khi xã hội càng phát triển, bảo tàng tư nhân sẽ ngày càng giữ vị trí quan trọng. Tôi đã đến các nước Hà Lan, Pháp, Italy… họ có một hệ thống hàng nghìn bảo tàng tư nhân. Những bảo tàng đó không hề to lớn mà thậm chí rất nhỏ, chỉ với quy mô gia đình nhưng đều có giá trị riêng và tồn tại từ rất lâu đời. Trong khi đó, bản tính người Việt Nam rất yêu văn hóa, yêu nghệ thuật, vì vậy tôi cho rằng trong tương lai, khi đời sống người dân được nâng cao, sẽ ngày càng có nhiều thêm những bảo tàng tư nhân có chất lượng.

3.jpg

Công chúng tham quan Bảo tàng Gốm cổ sông Hương của GS.TS Thái Kim Lan ở Huế. Ảnh: huengaynay.vn.

+ Có ý kiến cho rằng, lập ra bảo tàng đã khó… nhưng duy trì hoạt động của bảo tàng còn khó hơn nhiều. Không ít bảo tàng được lập ra nhưng chỉ sau ít năm hoạt động đã phải đóng cửa. Vấn đề lớn nhất mà các bảo tàng tư nhân gặp phải là gì, thưa ông?

- Khó khăn nhất của các bảo tàng tư nhân vẫn là vấn đề kinh phí. Cơ chế, chính sách của Nhà nước hiện nay đã rất mở, việc thành lập một bảo tàng không khó. Nhưng mở ra rồi thì kinh phí hoạt động ở đâu? Những người làm bảo tàng, ngoài doanh nhân và một số người khá giả thì phần lớn họ là những người dùng công sức của mình, không có những nguồn tài chính lâu dài. Số bảo tàng tư nhân có thu vé để quay trở lại chi cho hoạt động bảo tàng rất ít và số thu này cũng rất nhỏ so với những chi phí để duy trì hoạt động của bảo tàng. Lấy ví dụ ở Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên đây thôi, bảo vệ cũng là mình, quét dọn cũng là mình, làm nội dung cũng là mình, tất tật đều phải tự làm vì chúng tôi không có tiền để thuê người làm.

Do đó, vấn đề là làm sao thúc đẩy được các quỹ văn hóa, các nguồn tài trợ cho bảo tàng. Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số quỹ như vậy, chẳng hạn như Quỹ Vin IF đang giúp chúng tôi phát triển trưng bày “Thổ ty ở Lạng Sơn và gia tộc họ Vi”. Dự án với số tiền không nhiều - khoảng 1,2 tỷ đồng, tài trợ cho các hoạt động từ nghiên cứu, sưu tầm tư liệu cho đến thiết kế và tổ chức phòng trưng bày. Đây sẽ là nền tảng để hình thành một bảo tàng tương lai tại “Khu lưu niệm họ Vi” ở bản Chu, xã Khuất Xá, tỉnh Lạng Sơn, hiện đã là di tích văn hóa cấp tỉnh.

Thực tế đã cho thấy, cách tổ chức các quỹ như vậy rất hiệu quả, tiền có thể không nhiều, nhưng “ra tấm ra miếng”, đặc biệt là có mục tiêu rõ ràng nhằm giải quyết một câu chuyện nào đó của bảo tàng. Nhưng quan trọng hơn cả, đây là cách đi của những quốc gia tiên tiến, văn minh nhất. Ở Pháp, Hà Lan, Mỹ hay Nhật Bản, Hàn Quốc đều có rất nhiều quỹ, quỹ của Nhà nước và đặc biệt quỹ của các doanh nghiệp lớn nhỏ khác nhau. Ở những nước này, các bảo tàng tư nhân đều hoạt động nhờ sự tài trợ từ các quỹ.

Một khó khăn khác mà các bảo tàng ngoài công lập đang gặp phải đó là vấn đề tiếp nối, vấn đề con người. Những người chủ bảo tàng đều dựa trên nền tảng họ say mê lịch sử, họ yêu văn hóa. Nhưng sau họ là ai, ai sẽ là người cùng họ đi tiếp? Chủ nhân của các bảo tàng phần lớn đều cao tuổi cả. Làm sao để họ kết nối được với thế hệ trẻ? Làm sao để thế hệ con cái họ tiếp sau cũng yêu văn hóa, cũng tham gia gìn giữ bảo tàng, để bảo tàng không phải đóng cửa, đó là câu chuyện rất khó. Do đó, phải có những nguồn tài trợ để bảo tàng có kinh phí thuê người vận hành, để chuyên nghiệp hóa hoạt động bảo tàng. Như vậy, càng thấy vai trò của các quỹ quan trọng như thế nào.

+ Những quỹ hỗ trợ như vậy ở Việt Nam hiện đã nhiều chưa và để tiếp cận với quỹ có khó không, thưa ông?

- Ở Việt Nam hiện nay, theo tôi biết Nhà nước có quỹ NAFOSTED của Bộ Khoa học và Công nghệ, Quỹ Văn hóa hay Hội Di sản cũng có quỹ. Nhưng quỹ của doanh nghiệp như Vin IF còn rất ít. Với vai trò như một “bà đỡ” cho các bảo tàng, tương lai, Việt Nam sẽ cần có thêm nhiều quỹ của doanh nghiệp khác nữa.

Việc để bảo tàng tư nhân tiếp cận các quỹ tôi nghĩ sẽ không có gì là khó khăn. Theo như kinh nghiệm của Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên, khi tiếp cận với quỹ của Vin IF đều xuất phát từ mục tiêu, mong muốn của hai bên gặp nhau, quá trình cộng tác cũng như việc xem xét các đề tài, dự án tham dự cũng hoàn toàn công khai, minh bạch.

2.jpg

Một số hiện vật gốc về gia tộc họ Vi ở Lạng Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên.

Cần một cơ chế hậu kiểm

+ Nhiều ý kiến cho rằng phát triển bảo tàng tư nhân nên cần một “lối mở” khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa. Theo ông, chúng ta cần có những bước đột phá nào về cơ chế pháp lý để các bảo tàng tư nhân trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo?

- Cơ chế hiện nay đã thay đổi rất nhiều, tuy nhiên vẫn còn nhiều vướng mắc, nhiều quy định kìm hãm. Theo tôi, Nhà nước chỉ cần quy định những tiêu chí cơ bản nhất, những định hướng lớn - đó là cái khung để các bảo tàng hoạt động trong khuôn khổ đó mà không vi phạm. Người làm bảo tàng không được xuyên tạc lịch sử, không được phản ánh sai lệch văn hóa là được, còn việc chuyên môn họ làm thế nào, họ phải được quyền chủ động. Hãy áp dụng cơ chế hậu kiểm, nếu họ làm sai, cơ quan nhà nước vào kiểm tra, xử phạt. Thực tế bây giờ bảo tàng làm một cái đề cương cũng phải đưa lên để Sở Văn hóa duyệt, điều này chẳng để làm gì cả mà chỉ làm mất tính chủ động của bảo tàng. Theo tôi, các quy định của Nhà nước đối với bảo tàng cần phải được mở ra như đối với doanh nghiệp, những gì được làm và không được làm phải quy định rõ ràng. Hiện nay, những “lối mở” của Nhà nước với doanh nghiệp đang đi trước, trong khi các quy định với văn hóa cũng như với bảo tàng đang đi sau, chậm hơn.

Như tôi vừa nói, chúng ta cần có thêm nhiều quỹ để tài trợ cho các hoạt động của bảo tàng thì vai trò của Nhà nước là tạo cơ chế khuyến khích hình thành các quỹ văn hóa. Khi mà doanh nghiệp họ đã tạo ra một quỹ như vậy thì có cơ chế dành cho họ được hưởng ưu đãi về thuế… Đây chính là Nhà nước tháo gỡ nút thắt, là tư duy tiên tiến từ quốc tế mà chúng ta cần học tập, áp dụng. Vai trò “bà đỡ”, vai trò đồng hành của Nhà nước là ở chỗ đó chứ không phải cấp tiền cho bảo tàng tư nhân. Phải có sự đồng hành như vậy, Nhà nước mới làm tốt vai trò khơi nguồn cho những sáng tạo.

1.jpg

PGS.TS. Nguyễn Văn Huy giới thiệu trưng bày “Thổ ty ở Lạng Sơn và gia tộc họ Vi”.

Công nghệ không phải để làm “sang” bảo tàng

+ Trong một thế giới đang thay đổi từng ngày, bảo tàng không còn chỉ là nơi lưu giữ quá khứ mà cần phải đổi mới để thu hút khách. Đây là điều mà mọi người đều dễ dàng thống nhất, nhưng “đổi mới” như thế nào thì lại không dễ. Với kinh nghiệm làm quản lý cả bảo tàng công lập và bảo tàng tư nhân, theo ông chúng ta cần làm gì để tạo ra giá trị mới cho bảo tàng, để bảo tàng tăng sức hấp dẫn đối với công chúng?

- Để thu hút được công chúng, các bảo tàng phải đổi mới phương thức trưng bày và cách tiếp cận; phải hướng đến sự chuyên nghiệp, phải có cách kể chuyện. Chúng ta phải thay đổi nhận thức, phải xây dựng triết lý “lịch sử không có khoảng cách”. Mỗi hiện vật, tư liệu đều gắn liền với một câu chuyện trong quá khứ hàng trăm năm nay và chúng ta phải kết nối những câu chuyện đó để kể cho thế hệ trẻ, để họ được đối thoại, để họ thấu cảm, để tạo ra những cảm xúc cho họ. Đó chính là chúng ta khỏa lấp những khoảng cách của lịch sử và đó cũng là cách làm của các bảo tàng hiện đại. Chỉ có như vậy bảo tàng mới tiếp cận được với người trẻ, mới kéo được họ đến với bảo tàng.

Có người sẽ băn khoăn, vậy thì các cảm xúc đó được tạo ra như thế nào? Câu trả lời chính là phải có cách kể chuyện hấp dẫn, phải áp dụng công nghệ. Xu hướng của bảo tàng hiện nay là tăng cường các công nghệ, nhưng các bảo tàng tư nhân hiện nay rất ít sử dụng công nghệ, mà nguyên nhân cũng bởi họ không có tiền. Công nghệ cũng rất cần để số hóa các tư liệu, hiện vật của bảo tàng.

Tuy nhiên, chúng ta không được lạm dụng công nghệ, không đưa công nghệ vào chỉ để trình diễn cho đẹp, cho “sang”. Công nghệ phải tham gia vào câu chuyện, công nghệ phải góp phần diễn giải các tư liệu và hiện vật gốc chứ không phải đứng ngoài câu chuyện.

Ngoài ra, bảo tàng phải luôn luôn dựa vào hiện vật gốc bởi hoạt động bảo tàng không bao giờ thoát ly được hiện vật gốc. Hoạt động bảo tàng cũng phải đảm bảo phản ánh trung thực lịch sử, sự trung thực đó sẽ đảm bảo cho sự lôi cuốn của bảo tàng. Nếu bảo tàng bóp méo, kể những câu chuyện làm sai lệch lịch sử thì đó là điều rất tai hại.

Cuối cùng, bảo tàng không chỉ cần có nội dung tốt mà cũng cần quan tâm đến việc thiết kế, các mảng đồ họa, cách bài trí tủ giá kệ, bố trí ánh sáng phù hợp... Bảo tàng sẽ có được chiếc “chìa khóa vàng” khi hội đủ 3 trụ cột quan trọng đó là khoa học, nghệ thuật và công nghệ. Ba yếu tố này sẽ tạo nên sức bật, làm cho bảo tàng sinh động, hấp dẫn người xem. Nhưng trên hết, bảo tàng nào cũng vậy, phải lấy con người làm trung tâm.

+ Xin cảm ơn ông!


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết