An ninh năng lượng: Nền tảng không thể thay thế của nền kinh tế
Theo các chuyên gia, dù thế giới có tiến tới cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hay 6.0, năng lượng và các yếu tố nền tảng vẫn quyết định sự vận hành bình thường của xã hội và nền kinh tế.
Sáng 9/4, Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo “Biến động địa - chính trị và chiến lược đảm bảo năng lượng". Hội thảo thu hút sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính - đầu tư.
Bài học từ các cuộc khủng hoảng năng lượng
Biến động địa chính trị trên thế giới đang tác động trực tiếp đến thị trường năng lượng toàn cầu. Với nền kinh tế mở như Việt Nam, những tác động này trở nên rõ nét và đa chiều do mức độ phụ thuộc vào thương mại quốc tế và năng lượng nhập khẩu còn cao.

Toàn cảnh hội thảo. Ảnh Nguyễn Hạnh
Trong bối cảnh nguồn cung nhiên liệu trong nước mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu, những bất ổn từ bên ngoài đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhìn nhận an ninh năng lượng theo hướng chủ động, linh hoạt, gắn với sức chống chịu của toàn bộ nền kinh tế. Thách thức không chỉ nằm ở việc đảm bảo nguồn cung trong ngắn hạn, mà còn là khả năng làm chủ hệ thống năng lượng trong trung và dài hạn.
Nhiều rủi ro đang cùng lúc bộc lộ, từ phụ thuộc nhập khẩu xăng dầu, khí, than và khí hóa lỏng (LNG), đến phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị và hạ tầng phục vụ chuyển dịch năng lượng. Trong khi đó, nhu cầu điện năng của Việt Nam tiếp tục tăng nhanh do quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi số, phát triển trung tâm dữ liệu và các ngành sản xuất có cường độ năng lượng cao. Điều này đặt ra yêu cầu phải củng cố năng lực dự trữ, điều độ, lưu trữ năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao tính linh hoạt của hệ thống điện, thay vì chỉ tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu trước mắt.
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, nhấn mạnh: Cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay không phải lần đầu tiên xảy ra. Nguyên nhân mỗi lần khủng hoảng đều khác nhau, từ cuộc khủng hoảng dầu năm 1973, 1978, đến các cuộc khủng hoảng gần đây như tác động từ chiến tranh Ukraine – Nga. Mỗi lần khủng hoảng đều để lại bài học quan trọng đối với nền kinh tế thế giới và Việt Nam, cũng như tác động trực tiếp tới doanh nghiệp.
“Điều quan trọng cần khẳng định là dù thế giới có phát triển tới công nghiệp 6.0, các vấn đề cơ bản như năng lượng, an ninh năng lượng, lương thực và các yếu tố nền tảng khác vẫn quyết định sự vận hành bình thường của xã hội. Những vấn đề rất thực, rất cụ thể này luôn là nền tảng cho cuộc sống và kinh tế”, TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.
Với các nền kinh tế như Việt Nam, tác động của khủng hoảng năng lượng càng rõ rệt. Thích ứng không chỉ là vượt qua khó khăn trước mắt, mà còn là nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc trong tương lai, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế và đời sống xã hội.
8 nhóm giải pháp chủ động đảm bảo năng lượng
Việt Nam gần đây đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để ứng phó với biến động địa chính trị và khủng hoảng năng lượng. Điển hình như Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về đảm bảo nguồn cung, ổn định giá nhiên liệu. Các văn bản này nhằm tạo hành lang pháp lý, định hướng dài hạn, đồng thời yêu cầu chính phủ, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan phối hợp hành động, vừa hỗ trợ trước mắt, vừa đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn.
Tại hội thảo, các chuyên gia và doanh nghiệp đã thảo luận thẳng thắn về việc các văn bản hiện tại đã đủ chưa, cần thêm những giải pháp gì để tăng khả năng chống chịu, đồng thời đóng góp cho khu vực và thế giới trong bối cảnh nhiều khó khăn.
Theo TS. Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, tổng nhu cầu xăng dầu và khí đốt của Việt Nam hiện nay khoảng 26,65 triệu tấn, nguồn cung nội địa chỉ đạt khoảng 14,5 triệu tấn (chiếm 54,4%), chủ yếu từ hai nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn, phần còn lại (45,6%, khoảng 12,15 triệu tấn) vẫn phải nhập khẩu... Trong bối cảnh biến động chi phí đầu vào do xung đột địa chính trị, việc tăng tính chủ động, linh hoạt và khả năng chống chịu của nền kinh tế là rất cần thiết. TS. Hà Huy Ngọc đưa ra 8 nhóm giải pháp nhằm nâng cao an ninh năng lượng và giảm tác động tiêu cực của biến động giá năng lượng.
Thứ nhất, Chính phủ cần xây dựng kịch bản ứng phó, đảm bảo đủ cung xăng dầu, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu khí và dầu thô. Đồng thời, tăng cường kiểm tra để ngăn ngừa đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, kết hợp triển khai các chiến dịch tiết kiệm năng lượng. Một số doanh nghiệp vận tải, như Grab và các hãng taxi tại Hà Nội, đã chuyển sang sử dụng xe điện, góp phần giảm áp lực năng lượng truyền thống.
Thứ hai, đẩy nhanh tiến độ xây dựng tổng kho dầu thô và trữ dầu chiến lược. Mặc dù nguồn dầu hiện tại hạn chế, việc xây dựng các kho dự trữ dài hạn là cần thiết để chủ động ứng phó các cú sốc trong tương lai.
Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Thứ tư, triển khai nhanh xăng sinh học E5, E10. Cần tăng tốc đưa xăng sinh học E5 và E10 vào sử dụng rộng rãi để bù đắp thiếu hụt nguồn nhiên liệu truyền thống.
Thứ năm, sử dụng hiệu quả các quỹ nhà nước. Các quỹ như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, quỹ y tế, quỹ đường hiện có nguồn tiền lớn nhưng chủ yếu gửi ngân hàng. Việc sử dụng một phần các quỹ này để bổ sung Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Thứ sáu, giảm thuế đối với xăng dầu. Nới thời gian áp dụng các loại thuế, như thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, theo biến động giá dầu trên thị trường quốc tế, nhằm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp vận tải và sản xuất.
Thứ bảy, ổn định vĩ mô và tăng trưởng linh hoạt. Theo đó, xây dựng các kịch bản tăng trưởng và lạm phát, kết hợp các biện pháp điều hành khác nhau để duy trì ổn định nền kinh tế.
Thứ tám, Chính phủ nghiên cứu, phương án tạm thời cho nối điện lưới đối với một số dự án năng lượng mặt trời, điện gió chủ đầu tư đã hoàn thành hoặc đang chờ đấu nối phát điện nhưng vướng các vấn đề liên quan đến chồng lấn các bản quy hoạch để bổ sung nguồn cung năng lượng quốc gia, trong trường hợp đứt gãy nguồn cung năng lượng hóa thạch do chiến tranh vùng vịnh và giá cước vận tải tăng cao.
Hội thảo “Biến động địa - chính trị và chiến lược đảm bảo năng lượng" không chỉ cung cấp không gian trao đổi về những rủi ro hiện hữu mà còn giúp các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhận diện rõ các thách thức dài hạn. Chương trình gợi mở các giải pháp nâng cao tính chủ động, khả năng thích ứng và sức chống chịu của hệ thống năng lượng cũng như doanh nghiệp Việt Nam.
"Việc nhìn nhận năng lượng là nền tảng của nền kinh tế không chỉ giúp ứng phó các cú sốc trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài, đảm bảo Việt Nam phát triển bền vững", TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh và cho rằng, với các giải pháp đồng bộ, từ chính sách, đầu tư hạ tầng đến đổi mới công nghệ, Việt Nam có thể chủ động hơn trong việc bảo đảm nguồn cung năng lượng, giảm rủi ro từ biến động địa - chính trị, đồng thời duy trì đà phát triển kinh tế bền vững, ổn định, hướng tới mục tiêu tăng trưởng dài hạn và sức chống chịu cao hơn trước các cú sốc năng lượng trong tương lai.
Nguồn nguyên liệu đầu vào xăng dầu, khí Việt Nam vẫn gắn với chuỗi cung ứng dầu khí toàn cầu, đặc biệt là khu vực Trung Đông, đòi hỏi tăng cường an ninh năng lượng là cấp thiết.





